Bốn phát hiện lớn của thiên văn học trong những năm 60 của thế kỷ XX là gì?

Bốn phát hiện lớn của thiên văn học trong những năm 60 của thế kỷ XX là gì?

Công Thành
Thứ Sáu, 04/06/2021

Trả Lời: 

Những năm 60 của thế kỷ XX, cùng với sự nâng cao tính năng của kính
viễn vọng vô tuyến loại lớn, trong môn khoa học hấp dẫn con người nhất là
môn thiên thể vật lý học, tiếp đến là những phát hiện mang tính trọng đại, đó
chính là các loại tinh thể, mạch sun tinh, bức xạ đằng sau vũ trụ và phân tử
hữu cơ giữa các ngôi sao.
Năm 1960 đã phát hiện ra loại tinh thể đẩu tiên, đặc trưng lớn nhất của
nó là sự thay đổi màu đỏ của vạch quang phổ rất lớn, điều này cho biết rằng
nó cách Trái đất của chúng ta rất xa, có trên mấy trăm triệu năm hoặc hàng
ngàn năm ánh sáng. Mặt khác, độ sáng của loại thiên thể mạnh hơn gấp 100
~ 1000 lẩn so với toàn bộ hệ Ngân Hà (trong hệ Ngân Hà ước có khoảng
100.000.000.000 hành tinh), độ sáng của bức xạ điện mạnh hơn 100.0 lẩn!
Nhưng, thể tích của loại tinh thể lại rất nhỏ, chỉ bằng một phẩn mấy triệu tỷ
của hệ Ngân hà! Nguyên nhân nào làm cho loại tinh thể trong thể tích nhỏ
như vậy có thể tích tụ được nhiều năng lượng như vậy? Có phải tồn tại một
nguồn năng lượng mới mà chúng ta ngày nay vẫn chưa hiểu rõ? Theo sự tích
luỹ của tư liệu quan sát được có được từ nhiều năm nay đã phát hiện ra trên
6200 loại tinh thể. Con người tuy có một chút hiểu biết về chúng, nhưng bản
chất của nó vẫn là một bài toán chưa có lời giải với chúng ta!
Năm 1967, hai nhà thiên văn học nước Anh đã quan sát được một nguồn
bức xạ điện kỳ lạ trên bẩu trời, chúng phát ra theo cùng chu kỳ xác định một
cách lặp đi lặp lại một điện xung bức xạ điêun, mức độ chính xác của mạch
xung vượt qua cả đồng hồ bình thường. Lúc đẩu, các nhà thiên văn học còn
hoài nghi chúng là một bức điện báo không dây của các sinh vật cao cấp
trong vũ trụ phát về hướng chúng ta! Sau đó tiếp tục phát hiện ra một loạt
thiên thể như vậy, thông qua nghiên cứu, các nhà thiên văn học nhận thức
được rằng đây là một loại thiên thể mới một sao nơtron chuyển động với tốc
độ cao, được gọi là sao mạch xung. Ngày nay, đã có hơn 550 sao mạch xung
được phát hiện. Chất lượng của sao mạch xung so với Mặt trời là tương
đương nhau, thể tích thì lại rất nhỏ, thông thường đường kính chỉ có khoảng
từ 10 ~ 20 km, do đó mật độ rất lớn, vật chất sao
mạch xung của 1 cm3 chỉ có 100 triệu tấn, bằng 1000 tỷ lẩn mật độ vật chất
hạt nhân của Mặt trời! Nhiệt độ bề mặt của sao mạch xung ở khoảng trên 10
triệu độ C, mật độ hạt nhân cao hơn 6 tỷ độ C, dưới áp suất cao nhiệt độ cao,
vật chất đứng ở trạng thái kỳ lạ -trạng thái nơtron, tức toàn bộ điện tử bề
ngoài của nguyên tử bị hút vào hạt nhân nguyên tử mà trung hoá với điện
tích dương trong hạt nhân, kết quả, hạt nhân nguyên tử trung tính không
mang điện tích hạt nhân và hạt nhân sắp xếp một cách chặt chẽ cùng nhau

làm cho thể tích nhỏ lại nhiều lẩn. Ngày nay có không ít người cho rằng sao
mạch xung là một ngôi sao lâu đời, bởi vì nhiên liệu của hạt nhân đó đã tiêu
hao hết, dẫn đến kết quả tai biến mà bị mai một. Người phát hiện ra sao xung
mạch cũng do đó mà nhận được giải thưởng Nobelvề vật lý năm 1974.
Năm 1965, hai nhà vật lý học người Mỹ khi đi tìm nguồn âm thanh làm
nhiễu hệ thống thông tin của vệ tinh, bỗng phát hiện ra trên các hướng của
bẩu trời đều có những sóng bức xạ nhỏ yếu ớt, chúng tương ứng với bức xạ
vật đen ở nhiệt độ tuyệt đối là 3K. Loại bức xạ này đến từ trong vùng sâu
thẳm của vũ trụ, trên các hướng hẩu như hoàn toàn giống nhau, có thể thấy
rằng vũ trụ không phải là “chân không”. Hiện tượng này trong thiên văn học
được gọi là bức xạ bối cảnh vũ trụ. Nó đã nêu ra một chứng cứ quan sát tốt
nhất cho lí luận này để quan sát vũ trụ. Năm đó bài báo đưa tin về sự phát
hiện này chỉ có vẻn vẹn 600 chữ, nhưng đã làm chấn động toàn bộ giới vật lí
học thiên thể và giới vật lí học lý luận. Hai nhà phát hiện đó cũng do đó mà
được nhận giải thưởng Nobelvề vật lí năm 1978.
Đẩu những năm 60 của thế kỷ XX, sau khi con người quan sát lượng lớn
các bức xạ sóng ngắn centimet hay milimet, đã phát hiện ra rất nhiều loại vật
chất muôn hình vạn trạng giống như sự tồn tại của các hình phân tử với sự
bất ngờ lớn, trong đó không chỉ có vật vô cơ đơn giản, mà còn có những
phân tử hữu cơ tương đối phức tạp. Sự biến hoá của các phân tử giữa các
ngôi sao và các ngôi sao có quan hệ mật thiết. Càng quan trọng hơn là, sự
phát hiện của các phân tử hữu cơ giữa các ngôi sao đó, đã nêu ra một manh
mối quan trọng cho nghiên cứu khởi nguồn cuộc sống trong vũ trụ.
Bốn phát hiện lớn này trong thiên văn học của những năm 60 của thế kỷ XX
đều rất quan trọng đối với sự phát triển của thiên văn học và nhận thức của
con người về vũ trụ.

Viết bình luận của bạn